Hôm nay :

Hotline: 0916 72 69 59 - 01677 579875

[giaban][/giaban][tomtat]Rắn là loài động vật hoang dã, thuộc giống bò sát. Rắn sống trong môi trường hoang dã, ít khi tấn công người mà chỉ khi bị săn đuổi hoặc đột ngột gặp người nó mới tấn công để tự vệ. Khi bị rắn cắn cần phân biệt rắn có nọc độc và rắn không có nọc độc. Vết cắn của rắn không có nọc độc thì có hình cả hàm răng, còn rắn độc cắn để lại vết thương rõ 2 nốt răng nanh ở vùng bị cắn
[/tomtat][mota]Để điều trị rắn rết cắn, dân gian có những bài thuốc rất hiệu nghiệm. Xin giới thiệu bài thuốc của mế Nguyễn Thị Chùi – Hoà Bình – “lấy độc trị độc” chữa rắn rết cắn: khi bị cắn lấy ngay 5 củ Hành tăm, lá Ớt, giã nhỏ đắp nơi bị rắn rết cắn, hết nhức thì tháo bỏ đi. Ngày làm 1 – 2 lần đến khi hết đau, thường thì 15- 30 phút là hết đau, 2 – 3 giờ khỏi. Hành tăm có tác dụng giải độc thông kinh lạc, lá Ớt có tác dụng hoạt huyết, sát trùng lợi tiểu.
Để trị rắn độc cắn dân gian còn có hai bài thuốc dùng các cây cỏ quanh ta và Phèn chua như sau:
Bài 1: Cụ Nguyễn Hữu Triệu ở tỉnh Hoà Bình đã đúc kết bài thuốc chữa rắn độc cắn thành bài thơ dễ nhớ sau đây:
Lá Lưỡi hùm, rễ Cỏ may
Chữa rắn độc cắn, khỏi ngay tức thì
Đều một nắm giã nát đi
Nước sôi bẩy chục mili pha rồi
Lắng trong cho uống một hơi
Còn bã đắp vết thương ngoài băng lên
Nửa giờ sau hết đau rên
Uống thêm lần nữa bệnh liền đoạn căn
Tôi từng kinh tự bao lần
Để xin giới thiệu khi cần dùng ngay.
Lá Lưỡi hùm tức lá cây Cam xũng, còn gọi là Lưỡi hổ hay lá Lưỡi cạp. Tên khoa học Sauropus rostratus mip… thuộc họ Thầu dầu thường dùng chữa trẻ em cam xũng phù nề, đi ngoài, có tác dụng chữa dị ứng; rễ Cỏ may có tác dụng tiêu độc, giải nhiệt lợi tiểu. Kết hợp lá Lưỡi hùm với rễ Cỏ may chữa rắn độc cắn là một bài thuốc độc đáo của cụ Triệu mà cụ đã chữa khỏi cho nhiều người. Cụ Triệu rất tâm đắc viết thành bài thơ mong phổ biến rộng rãi trong quần chúng.
Bài 2: Vườn Y học dân tộc Đắc Lắc đã ứng dụng chữa trị nhiều năm nay bài thuốc dân gian gồm hai vị cây Kim vàng và Phèn chua. Bài thuốc có tên là “KVP”. Cây Kim vàng có tên khoa học là Barleria Lupulina linal thuộc họ Ôrô, có nguồn gốc từ Madagaxca Châu Phi di thực sang Việt Nam còn được gọi là Gai kim vàng, Trâm vàng lá thon nhỏ, gai dài nhọn, hoa vàng tươi, thường được trồng thay cây cảnh. Lá có tác dụng tiêu độc, tiêu đờm hạ khí, bài trùng khu phong trục huyết đau tức ngực bụng tay chân tê bại. Phèn chua là loại hoá chất dễ tìm.
Khi bị rắn độc cắn cần sơ cứu garo trên vị trí rắn cắn, trích rạch chỗ rắn cắn, dùng ống giác hoặc hạt giót màu đỏ tươi áp vào chỗ rạch để hút máu bầm, giã mịn 20g lá Kim vàng (lá bánh tẻ) và 5g Phèn chua lọc nước cho bệnh nhân uống, cứ 15 – 30 phút uống một lần, sau đó 2 giờ uống một lần, tuỳ mức độ nặng nhẹ mà thôi uống khi thấy bệnh trạng đã ổn định, thường là sau 2 –3 ngày. Nếu vết thương nhiễm trùng thì dùng kháng sinh.
Bài thuốc này, Viện y học dân tộc Đắc Lắc trong 5 năm (1995 – 1999) đã chữa 410 ca, có 404 ca khỏi hẳn chỉ có một ca tử vong vì tình trạng bệnh nhân quá nặng lại ở xa nên đến viện thì quá muộn và có 4 ca khác phải chuyển viện để điều trị. Tại các hội nghị về thừa kế Y học cổ truyền tại Đắc Lắc, các bác sĩ Hoàng Đình Quý, Cao Minh Toàn, Nguyễn Thị Vân đã tích cực phổ biến giá trị bài thuốc cây Kim vàng và Phèn chua điều trị rắn độc cắn. Khuyến khích mọi người trồng cây Kim vàng và dùng bài thuốc trên khi bị rắn độc cắn. Lương y Nguyễn Văn Dũng đã dùng bài thuốc trên cứu hơn 40 người bị rắn độc cắn trở về với cuộc sống đời thường.[/mota]

[giaban][/giaban][tomtat]Bỏng có nhiều loại: Bỏng lửa, bỏng nước, bỏng vôi, bỏng axit….. Khi bị bỏng, phần mềm cơ thể bị tổn thương do lớp da bên ngoài bị cháy, gây tê liệt, đau nhức, lở loét, viêm nhiễm, sưng thũng dẫn đến thương tích, nặng thì dẫn đến tử vong[/tomtat][mota]Phép chữa: Định phách, an thần, tiêu viêm, giảm đau, thanh nhiệt tiêu thũng, thông kinh, hoạt lạc, cầm dịch, sinh cơ.
Uống trong: Quy tỳ gia: Long cốt, Hổ phách
Bôi ngoài: Dùng Cao thập Hoàng
Bài thuốc Cao thập Hoàng: Hoàng liên 20g; Hoàng bá 20g; Phong mật 100g; Sinh địa hoàng 30g; Lưu hoàng 8g; Xuyên tâm liên 50g; Hoàng cầm 20g; Đại hoàng 50g; Khương hoàng 40g; Hùng hoàng 8g; Một dược 10g.
Điều chế: Tất cả rửa sạch, thái mỏng, cho vào nồi nấu với 6 lít nước còn 1,5 lít, lọc cặn, để nguội, đóng vào chai, nút kín, cho vào tủ lạnh; nếu không có tủ lạnh thì cho vào bể nước hoặc chôn xuống đất.
Trong bài thuốc trên: Phong mật, Khương hoàng: Sinh cơ lên da non, liền sẹo. Hùng hoàng, Lưu hoàng, Một dược: Trừ khuẩn, tiêu thịt thối, cầm dịch, thông kinh hoạt lạc, sinh cơ giảm đau. Xuyên tâm liên: Thanh nhiệt, giải độc, mát huyết tiêu thũng. Bài thuốc trên dùng toàn các vị màu vàng để việc tái hồi da thịt không bị loang lổ và sạch vết sẹo đen.
Cách dùng: Khi bị bỏng, rửa sạch vết bỏng bằng nước thuốc trên.
Thể nhẹ: Da chỉ bị phỏng nhẹ, bôi thuốc ngày 2 – 3 lần trong 1 tuần sẽ trở lại bình thường.
Thể nặng: Da thịt tróc, vẫn cho thuốc này vào nhiều lần trong ngày lau chùi và cắt lớp da chết, thối, bôi liên tục nhiều ngày sẽ mọc da non, liền sẹo. Trong cho uống Quy tỳ gia.
Ngoài ra, khi bỏng đã khô, muốn đắp ngoài có thể dùng: Đại hoàng, Long cốt, Thạch cao nướng cùng với Nghệ, đem tán bột mịn hoà vào nước Chè xanh thành hồ loãng đắp càng tốt. Nếu có nước Sinh địa hoàng tươi cho vào càng hay. Đại hoàng, Thạch cao, Sinh địa, nước chè làm mát da thịt; Long cốt, Nghệ sinh cơ thu sang.[/mota]

[giaban][/giaban][tomtat]Bí tiểu tiện Đông y gọi là lung bế. Nguyên nhân dẫn đến lung bế có thể là do thấp nhiệt, do huyết lâm, thạch lâm, hoặc do các cơ quan lân cận chèn ép làm cho niệu đạo bị bế tắc
[/tomtat][mota]Để điều trị, Đông y có các bài thuốc hiệu quả theo từng thể lâm sàng như sau:
Bí tiểu do thấp nhiệt: Người bệnh có biểu hiện đái buốt đái dắt, nước tiểu đỏ, cảm giác nóng rát ở bàng quang và niệu đạo; thường kèm theo đau đầu, đau lưng, sốt, miệng đắng, rêu lưỡi vàng… Phép trị là thanh nhiệt lợi thấp, thông tiểu. Dùng một trong các bài:
Bài 1: hương nhu trắng 16g, cỏ mần trầu 16g, ngân hoa 10g, liên kiều 12g, sinh địa 12g, mã đề thảo 16g, râu ngô 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh nhiệt lợi tiểu hóa thấp.
Bài 2: hạ liên châu 16g, bạch mao căn 16g, thổ phục linh 20g, mộc thông 12g, rau dấp cá 16g, mã đề thảo 16g, tang diệp 20g, vỏ bí ngô 16g, mướp đắng 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh nhiệt, chống viêm, lợi tiểu.
Bí tiểu do sỏi:Người bệnh có biểu hiện bí tiểu, đau lưng, đau ở bộ phận sinh dục và lan ra vùng lân cận. Nước tiểu đỏ có khi lẫn máu, có trường hợp đau quặn, không đi tiểu được làm người bệnh rất khó chịu. Phép trị là chống viêm, bài thạch (làm tan sỏi và tống sỏi ra ngoài). Dùng một trong các bài:
Bài 1: kim tiền thảo 20g, râu ngô 16g, trinh nữ 20g, rễ bí ngô 16g, trúc diệp 20g, rau ngổ 16g, ích mẫu 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: chống viêm, thông tiểu, bài thạch.
Bài 2: mướp đắng 20g, trinh nữ 20g, rễ cỏ tranh 20g, kê nội kim 10g, cỏ xước 16g, dấp cá 20g, ngân hoa 10g, hương nhu trắng 16g, hải kim sa 16g, rau ngổ 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: chống viêm, bài thạch.
Bí tiểu do sang chấn:
Người bệnh có biểu hiện tiểu buốt, gắt, nước tiểu vàng, có khi màu hồng lẫn máu, đau tức vùng hạ vị, rêu lưỡi trắng, mạch hoạt. Phép trị là lợi niệu, hoạt huyết, bổ trung ích khí. Dùng bài thuốc: sinh địa 12g, thông thảo 6g, trúc diệp 16g, tam thất 12g, sơn chi 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, sài hồ 12g, đinh lăng 16g, xa tiền 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: bổ khí hoạt huyết, thông tiểu, giảm đau.
Bí tiểu sau phẫu thuật: Biểu hiện bàng quang căng đầy, đau tức, bí tiểu, các cơ và thần kinh ở vùng tiểu khung bị chấn động dẫn đến co cứng làm cho niệu đạo bị co thắt gây bế tắc. Người bệnh đau tức, bí tiểu, không dám cử động mạnh. Phép trị là thư giãn cơ, chống co thắt, phục hồi chức năng của thần kinh, lập lại cân bằng âm dương. Dùng bài thuốc: cát căn 20g, hà thủ ô (chế) 16g, chè khô 16g, ba kích 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: chống co thắt, kích thích và phục hồi chức năng chỉ đạo của thần kinh trung ương.
Lưu ý:trường hợp này không được dùng thuốc lợi tiểu.[/mota]

[giaban][/giaban][tomtat]-Mùa đông,thời tiết lạnh kèm hanh khô khiến làm tăng bệnh Viêm phế quản  nhất là trẻ em và người già,theo Đông Y,Viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu,đàm ẩm.
-Nguyên nhân: Là do ngoại cảm phong hàn,phong nhiệt và khí táo.
[/tomtat][mota]Bí tiểu do thấp nhiệt: Người bệnh có biểu hiện đái buốt đái dắt, nước tiểu đỏ, cảm giác nóng rát ở bàng quang và niệu đạo; thường kèm theo đau đầu, đau lưng, sốt, miệng đắng, rêu lưỡi vàng… Phép trị là thanh nhiệt lợi thấp, thông tiểu. Dùng một trong các bài:
Bài 1: hương nhu trắng 16g, cỏ mần trầu 16g, ngân hoa 10g, liên kiều 12g, sinh địa 12g, mã đề thảo 16g, râu ngô 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh nhiệt lợi tiểu hóa thấp.
Bài 2: hạ liên châu 16g, bạch mao căn 16g, thổ phục linh 20g, mộc thông 12g, rau dấp cá 16g, mã đề thảo 16g, tang diệp 20g, vỏ bí ngô 16g, mướp đắng 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh nhiệt, chống viêm, lợi tiểu.
Bí tiểu do sỏi:Người bệnh có biểu hiện bí tiểu, đau lưng, đau ở bộ phận sinh dục và lan ra vùng lân cận. Nước tiểu đỏ có khi lẫn máu, có trường hợp đau quặn, không đi tiểu được làm người bệnh rất khó chịu. Phép trị là chống viêm, bài thạch (làm tan sỏi và tống sỏi ra ngoài). Dùng một trong các bài:
Bài 1: kim tiền thảo 20g, râu ngô 16g, trinh nữ 20g, rễ bí ngô 16g, trúc diệp 20g, rau ngổ 16g, ích mẫu 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: chống viêm, thông tiểu, bài thạch.
Bài 2: mướp đắng 20g, trinh nữ 20g, rễ cỏ tranh 20g, kê nội kim 10g, cỏ xước 16g, dấp cá 20g, ngân hoa 10g, hương nhu trắng 16g, hải kim sa 16g, rau ngổ 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: chống viêm, bài thạch.
Bí tiểu do sang chấn:
Người bệnh có biểu hiện tiểu buốt, gắt, nước tiểu vàng, có khi màu hồng lẫn máu, đau tức vùng hạ vị, rêu lưỡi trắng, mạch hoạt. Phép trị là lợi niệu, hoạt huyết, bổ trung ích khí. Dùng bài thuốc: sinh địa 12g, thông thảo 6g, trúc diệp 16g, tam thất 12g, sơn chi 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, sài hồ 12g, đinh lăng 16g, xa tiền 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: bổ khí hoạt huyết, thông tiểu, giảm đau.[/mota]

BÀI THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN
Chuyên chữa các bệnh

1.Mồm méo mắt sếch, nôn ra đờm giải, nói năng khó khăn, hai tay mềm yếu, các khớp xương đau, nhức sưng đầu gối, không sức lực, bụng đầy hơi

2.Tay chân liệt không cử dộng được

3.Đau nhức tê buồn, tê dại, tê bại, tê lạnh, bứt rứt, chân tay giá lạnh (đau một chỗ) không di chuyển được

4.Tê nửa người bên trái

5.Tê nửa người bên phải

6.Các bệnh khi phụ nữ nuôi con nhỏ

7.Tê liệt cả 2 bên

8.Đau nhức tê buồn các khớp xương (không di chuyển được)

9.Đau lưng, bắp chân, đầu bắp tê ngắn cò

10.Đau đầu gối to, bắp chân nhỏ, đùi bắp nhỏ

11.Chân lạnh mềm yếu đi lại khó khăn

12.Bệnh bướu cổ

13.Bệnh thấp tì kinh, chân tay mặt phù trắng xuống khí thở đại phúc bì

14.Bệnh da vàng đi tiểu sáp khó nóng

15.Bệnh thân thể phù thống

16.Tiểu tiện kém (phụ nữ âm hộ ngứa nu, nút sưng)

17.Đi tiểu đau buốt

18.Bệnh phụ nữ kinh nguyệt

Một số hình ảnh
Chữa bệnh trẻ sơ sinh

1.Trẻ bú khoảng 1 giờ chế ra bụng có hơi đầy

2.Trẻ bú vào lại trớ ra ngay

3.Trẻ cứ tối lại khóc đêm

4.Trẻ lưỡi mốc bựa nên không bú được

5.Trẻ tự nhiên mồm cứng lại không bú được

6.Trẻ cứ ngăn vú lại hoặc ngậm lại nhả ra khóc không bú được

7.Tự nhiên trẻ nóng, bụng hơi đầy, đi tiểu ít, nôn mửa

8.Bệnh cam trẻ em

9.Trẻ tự nhiên mắt đỏ, có mồ hôi thưởng ở lẳng lè (mồm nôn đít ỉa, bụng có hơi đầy)

10.Trẻ không nóng không rét, đầu khò khè, bú sữa thường nhả ra

11.Nóng do có đờm khò khè

BACK TO TOP